top of page
Search

DITHER trong mastering có nghĩa là gì? (Phần 1)

Tìm hiểu về Dither

Dither là quá trình thêm một lượng noise vào tín hiệu để giảm độ distortion trong quá trình chuyển đổi bit depth. Dithering chỉ nên được áp dụng trong giai đoạn mastering khi chuyển từ 24 hoặc 32 bit xuống 16 bit. Phương pháp này giúp đảm bảo rằng mọi chi tiết của bản mix của bạn vẫn được bảo toàn khi phát trực tuyến.


Nghe có vẻ đơn giản, nhưng Dithering là một chủ đề rất dễ hiểu nhầm. Chúng ta hãy cùng đi đến chi tiết hơn để cùng hiểu sâu hơn về Dither nào!


Hiểu về âm thanh kỹ thuật số

Để hiểu dither, bạn cần có kiến thức cơ bản về âm thanh kỹ thuật số. Hãy bắt đầu với những điều cơ bản.


Khi tạo một tệp âm thanh kỹ thuật số, bạn đang ghi lại một trình tự kỹ thuật số của tín hiệu analog, giống như một ảnh chụp âm thanh. Như một video với hàng nghìn ảnh tĩnh được phát lần lượt, âm thanh kỹ thuật số chỉ đơn giản là một chuỗi các ảnh chụp âm thanh được phát nối tiếp nhau, tạo ra ảo giác về âm thanh di chuyển theo thời gian.

Để tái tạo chính xác các sóng âm, chúng ta cần ghi lại các ảnh chụp chi tiết có thể định lượng đáp ứng tần số và biên độ của âm thanh. Các ảnh chụp này được gọi là sample, và chúng là nền tảng của âm thanh kỹ thuật số.


Tần số lấy mẫu (Sample Rate) của ghi âm kỹ thuật số quy định số lượng Sample hoặc ảnh chụp âm thanh mà bản ghi ghi lại mỗi giây - thường là 44.100 hoặc 48.000, tùy thuộc vào tần số lấy mẫu bạn sử dụng.



ree

Bit depth kiểm soát độ chính xác của mỗi ảnh chụp hoặc mẫu trong việc ghi lại các chi tiết của tín hiệu analog gốc. Mỗi bit bổ sung sẽ tăng độ phân giải mà audio interface của bạn có sẵn để đo level của tín hiệu đầu vào. Các bản ghi có Bit depth lớn hơn có khả năng có dynamic range lớn hơn, trong khi các bản ghi có Bit depth thấp có dynamic range hạn chế hơn.


Mỗi mẫu hoặc ảnh chụp được gán một biên độ, giống như một điểm trên biểu đồ. Tuy nhiên mọi thứ không phải lúc nào cũng khớp nhau. Khi biên độ của tín hiệu analog cao hơn hoặc thấp hơn giá trị digital gần nhất một chút, biên độ sẽ được làm tròn lên hoặc xuống để bù đắp. Điều này gây ra những gì được gọi là lỗi quantization, có thể tạo ra distortion không mong muốn.


Nó giống như một câu đố "nối các chấm". Với chỉ một vài điểm, các đường sẽ cứng và lởm chởm, khiến bản vẽ trông giống như một phiên bản cồng kềnh của bản gốc. Nhưng với nhiều điểm, bạn có thể ghi lại nhiều hơn những sắc thái tinh tế của bản gốc.



ree

Làm việc ở bit depth thấp tương tự như khắc một tác phẩm điêu khắc bằng cưa khi bạn cần một con dao bén. Nó không cho phép bạn nắm bắt đủ chi tiết để tạo lại chính xác nguồn analog ban đầu.


(Hết phần 1)


 
 
 

Comments


bottom of page